Tư tưởng HCM Forum ĐH Toán K9 - Mái Nhà Tình Bạn


Tư tưởng HCMXem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down

Wed Mar 09, 2011 9:17 pm
avatar
[Thành viên] - Admin
»♥(¯Administartor¯)♥«
»♥(¯Administartor¯)♥«
Tổng số bài gửi : 127
Points : 381
Được cám ơn : 5
Bị dụ dỗ ngày : 18/10/2010
Age : 26
Đến từ : Niềm đam mê

Bài gửiTiêu đề: Tư tưởng HCM
Xem lý lịch thành viên http://dhtoank9.4umer.com

Câu 01: Phân tích cơ sở khách quan hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh.
a) Bối cảnh lsử:
*Bối cảnh lsử thời đại:
-Giữa TK XIX học thuyết Mác ra đời.
-Cuối TK XIX đầu TK XX CNTB ptriển mạnh mẽ, ngày càng mang tính đquyền và lũng đoạn qtế là cho mthuẫn của thời đại ngày càng gay gắt.
-1917, CM-10 Nga thành công.
-Ptrào gphóng dtộc trên TG đầu TK XX ptriển nhưng chưa nơi nào dành đc thắng lợi.
*Bối cảnh VN:
-Trước khi TD Pháp xâm lượ VN là 1 quốc gia PK, độc lập bảo thủ co t/c phản động.
- Sau khi TD P xâm lược và thống trị tàn bạo đã làm cho XH VN biến đổi sâu sắc toàn diện ,XH VN trở thành 1 XH thuộc địa nửa PK do đó mâu thuấn giữa toàn thể dân tộc với TDP và tay sai phản động ngày càng gay gắt.
-Cuối thế kỷ XIX - XX ở VN đã xuất hiện nhiều pt đấu tranh gpdt,những pt theo quynh hướng PK,tiểu tư sản...những pt này diễn ra sôi nổi liên tục nhưng đều thất bại do chưa có đường lối lãnh đạo đúng đắn,chư đáp ứng đc nguyện vọng của nd và ko p/a dc xu thế pt của thời đại.
=> Như vậy đầu TK XX VN lâm vào tình trạng bế tắc về con đường cứu nước và thực tiễn dăt ra 1 yêu cầu bức thiết là tìm 1 con đg đúng đắn để đáp ứng ycầu của dtộc và thời đại.
b) Những tiền đề tư tưởng - lí luận:
*Giá trị truyền thống dtộc.
-Lsử dựng nc và giữ nc lâu đời đã hình thành nên những gtrị trthống hết sức đsắc và cao quý của dtộc VN, trở thành tiền đề tt và lí luận x/phát hthành tt HCM. Đó là trthống yêu nc, kiên cường bất khuất, là tinh thần tương thân tương ái, lòng nhân ái, ý thức cố kết cộng đồng, là ý chí vươn lên vượt wa mọi khó khăn thử thách...
-Trong những gtrị đó, chủ nghĩa yêu nc trthống tt , tcảm cao quý, thiêng liêng nhất, là cội nguồn của trí tuệ stạo và lòng dũng cảm của người VN, cũng là chuẩn mực đạo đức cơ bản của dtộc.
*Tinh hoa văn hoá nhân loại.
-Kết hợp những gtrị truyền thống của văn hoá phương Đông vs các thành tựu hđại của văn minh phương Tây - đó chính là nét đsắc trong qtrình hthành nhân cách và văn hoá HCM.
-Đối vs VH phương Đông, cùng vs những hiểu biết uyên bác về Hán học, HCM biết chắt lọc những gì tinh tuý nhất trong các học thuyết triết học, hoặc tt của Lão Tử, Mặc Tử, Quảng Tử... Người tiếp thu những mặt tích cực của Nho giáo, đó là những triết lí hđộng, tt nhập thế, hành đạo, giúp đời...
-Về Phật giáo, HCM tiếp thu và chịu a/h sâu sắc các tt vị tha, từ bi bác ái, cứu khổ cứu nạn, thương người như thể thương thân..., là nếp sống có đạo đức, trong sạch, giản dị, chăm lo làm việc thiện, là tinh thần bình đẳng, dân chủ, chống pbiệt đẳng cấp, là việc đề cao lđộng, chống lười biếng, là chủ trương sống ko xa lánh việc đời mà gắn bó vs dân, vs nc, tích cực tgia vào cuộc đtranh của nhdân chống kẻ thù dtộc...
-Cùng vs những tt triết học phương Đông, HCM còn nghiên cứu tiếp thu a/h của nèn VH dân chủ và CM phương Tây. Người sớm làm wen vs VH Pháp, tìm hiểu các cuộc CM ở Pháp và Mĩ.
*Chủ nghĩa Mác - Lênin.
-Chủ nghĩa Mác - Lênin là csở TG quan và phương pháp luận của tt HCM.
-Việc tiếp thu chủ nghĩa Mác - Lênin ở HCM diễn ra trên nền tảng của những tri thức VH tinh tuý đc chắt lọc, hấp thụ và 1 vốn ctrị, vốn hiểu biết phong phú, đc tích luỹ qua thực tiễn hđộng đtranh cứu nc và gphóng dtộc.
-Bản lĩnh trí tuệ đó đã nâng cao khả năng đlập tự chủ và stạo ở Người khi vdụng những nglí CM của thđại vào hcảnh, đk cụ thể của VN.
*Nhận xét.
TTHCM là sự kết tinh những gtrị cao quý của những trthống tốt đẹp của dtộc VN, trong đó chủ nghĩa yêu nc là cốt lõi, là điểm x/phát, là động lực để HCM tiếp nhận VH nhân loại mà đỉnh cao là chủ nghĩa Mác - Lênin để hthành tt của mình.

Câu 02: Nêu những nội dung cơ bản trong tư tưởng HCM về cách mạng VN thể hiện trong thời kì 1921 - 1930.
-Hồ Chí Minh đã có thời kỳ hoạt động thực tiễn và lý luận sôi nổi, phong phú ở Pháp (1921-1923), ở Liên Xô (1923-1924), ở Trung Quốc (1924-1927), ở Thái Lan (1928-1929)... Trong thời gian này, tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng Việt Nam đã hình thành cơ bản.
-Hồ Chí Minh đã kết hợp nghiên cứu xây dựng lý luận, kết hợp với tuyên truyền tư tưởng giải phóng dân tộc và vận động tổ chức quần chúng đấu tranh, xây dựng tổ chức cách mạng, chuẩn bị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.
-Những tác phẩm như Bản án chế độ thực dân Pháp (1925), Đường Kách mệnh (1927) và những bài viết của Hồ Chí Minh trong thời kỳ này đã thể hiện những quan điểm lớn và độc đáo, sáng tạo về con đường cách mạng Việt Nam. Có thể tóm tắt nội dung chính của những quan điểm đó như sau:
+Cách mạng giải phóng dân tộc trong thời đại mới phải đi theo con đường cách mạng vô sản. Giải phóng dân tộc phải gắn liền với giải phóng nhân dân lao động, giải phóng giai cấp công nhân, phải kết hợp độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội.
+Cách mạng thuộc địa và cách mạng vô sản ở chính quốc có quan hệ mật thiết với nhau. +Cách mạng thuộc địa không lệ thuộc vào cách mạng ở chính quốc mà có tính chủ động, độc lập.
+Cách mạng thuộc địa có khả năng giành thắng lợi trước cách mạng ở chính quốc và giúp cho cách mạng ở chính quốc trong nhiệm vụ giải phóng hoàn toàn.
+Cách mạng thuộc địa trước hết là một cuộc "dân tộc cách mệnh", đánh đuổi đế quốc xâm lược, giành lại độc lập, tự do.
+Giải phóng dân tộc là việc chung của cả dân chúng; phải tập hợp lực lượng dân tộc thành một sức mạnh lớn để chống đế quốc và tay sai.
+Phải đoàn kết và liên minh với các lực lượng cách mạng quốc tế, song phải nêu cao tinh thần tự lực tự cường, không được ỷ lại chờ đợi sự giúp đỡ của quốc tế.
+Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, của cả dân tộc đại đoàn kết. Phải tổ chức quần chúng, lãnh đạo và tổ chức đấu tranh bằng các hình thức và khẩu hiệu thích hợp. Phương pháp đấu tranh để giành chính quyền, giành lại độc lập tự do là bằng bạo lực của quần chúng và có thể bằng phương thức khởi nghĩa dân tộc.
+Cách mạng muốn thành công trước hết phải có đảng cách mạng lãnh đạo, vận động và tổ chức quần chúng đấu tranh. Đảng có vững cách mạng mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy đúng hướng, tới đích. Đảng phải có lý luận làm cốt...
-Cùng với chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng cách mạng của Hồ Chí Minh trong những năm 20 của thế kỷ XX được truyền bá vào Việt Nam, làm cho phong trào dân tộc và giai cấp ở nước ta trở thành một phong trào tự giác, dẫn đến sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam ngày 3-2-1930, thông qua Cương lĩnh đầu tiên của Đảng.
Câu 3: Trình bày quan điểm của HCM về những đặc trưng, bản chất của chủ nghĩa xã hội.
* Bản chất của CNXH được các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác- Lênin luận giải qua một một số đặc trưng cơ bản sau:
- Xoá bỏ từng bước chế độ tư hữu tư bản chủ nghĩa, thiết lập chế độ sở hữu công cộng để giải phóng cho sức sản xuất xã hội phát triển.
- Có một nền đại công nghiệp cơ khí với trình độ khoa học và công nghệ hiện đại có khả năng cải tạo nông nghiệp, tạo ra năng suất lao động cao hơn CNTB.
- Thực hiện sản xuất có kế hoạch, tiến tới xoá bỏ sản xuất hàng hoá trao đổi tiền tệ.
- Thực hiện nguyên tắc phân phối theo lao động, thể hịên sự công bằng và bình đẳng về lao động và hưởng thụ.
- Khắc phục dần sự khác biệt giữa các giai cấp, giữa nông thôn và thành thị, giữa lao động trí óc và lao động chân tay, tiến tới một xã hội tương đối thuần nhất về giai cấp.
- Giải phóng con người khỏi mọi ách áp bức, bóc lột, nâng cao trình độ tư tưởng văn hoá cho nhân dân, tạo điều kiện cho con người tận lực phát triển mọi khả năng sẵn có của mình.
- Sau khi đã đạt được những điều nói trên, khi giai cấp không còn nữa thì chức năng chính trị của nhà nước sẽ dần dần tiêu vong.
Tiếp thu sáng tạo tư tưởng của các bậc thầy của giai câp vô sản thế giới, HCM trong những thời điểm khác nhau, đã nêu lên quan niệm của mình về đặc trung bản chất của CNXH:
- CNXH là một chế độ xã hội do nhân dân làm chủ, Nhà nước phải huy động được tính tích cực và sáng tạo của nhân dân vào sự nghiệp xây dựng CNXH.
- CNXH có nền kinh tế phát triển cao, dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và chế độ công hữu về các tư liệu sản xuất chủ yếu.
- CNXH là một xã hội phát triển cao về văn hoá, đạo đức, con người được giải phóng khỏi áp bức, bóc lột, có cuộc sống vật chất và tinh thần phong phú, được tạo điều kiện để phát triển hết khả năng của mình.
- CNXH là một xã hội công bằng và hợp lý.
- CNXH là một công trình tập thể của nhân dân, do nhân dân tự xây dựng dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Tóm lại, theo HCM, CNXH là một xã hội dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, nhân đạo, đạo đức văn minh, một chế độ xã hội ưu việt nhất trong lịch sử, phản ánh được khát vọnh tha thiết của loài người.
* Vận dụng:
Tư tưởng HCM về CNXH và con đường quá độ lên CNXH ở VN là một hệ thống bao gồmcác luận điểm về bản chất, mục tiêu và động lực của CNXH, về tính tất yếu khách quan của thời kỳ quá độ và các hình thức, biện pháp, bước đi trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta.
- Trong quá trình đổi mới, phải kiên trì mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH trên nền tảng chủ nghĩa Mác- Lênin và tư tưởng HCM.
- Đổi mới là sự nghiệp của nhân dân, do đó cần phải phát huy quyền làm chủ của nhân dân, khơi dậy mạnh mẽ, tổ chức các nguồn lực, trước hết là nguồn lực nội sinh, để thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
- Đổi mới phải kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại.
- Xây dựng Đảng vững mạnh, làm trong sạch bộ máy nhà nước, đẩy mạnh đấu tranh chống tệ quan liêu, tham nhũng thực hiện cần kiệm để xây dựng CNXH.
Câu 04: Hãy phân tích quan điểm của HCM về nội dung xây dựng CNXH ở nước ta trong thời kỳ quá độ.
Công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta là một sự nghiệp cách mạng mang tính toàn diện. Hồ Chí Minh đã xác định rõ nhiệm vụ cụ thể cho từng lĩnh vực:
*Trong lĩnh vực chính trị:
-Nội dung quan trọng nhất là phải giữ vững và phát huy vai trò lãnh đạo của Đảng. Đảng phải được chỉnh đốn, nâng cao sức chiến đấu, có hình thức tổ chức phù hợp để đáp ứng các yêu cầu, nhiệm vụ mới.
- Củng cố và mở rộng mặt trận dân tộc thống nhất, nòng cốt là liên minh công nhân, nông dân và trí thức, do Đảng Cộng sản lãnh đạo; củng cố và tăng cường sức mạnh toàn bộ hệ thống chính trị cũng như từng thành tố của nó.
*Nội dung kinh tế được Hồ Chí Minh đề cập trên các mặt:
-Lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất, cơ chế quản lý kinh tế. Người nhấn mạnh đến việc tăng năng suất lao động trên cơ sở tiến hành công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa. Đối với cơ cấu kinh tế, Hồ Chí Minh đề cập cơ cấu ngành và cơ cấu các thành phần kinh tế, cơ cấu kinh tế vùng, lãnh thổ.
-Đối với kinh tế vùng, lãnh thổ, Hồ Chí Minh lưu ý phải phát triển đồng đều giữa kinh tế đô thị và kinh tế nông thôn. Người đặc biệt chú trọng chỉ đạo phát triển kinh tế vùng núi, hải đảo, vừa tạo điều kiện không ngừng cải thiện và nâng cao đời sống của đồng bào, vừa bảo đảm an ninh, quốc phòng cho đất nước.
-Ở nước ta, Hồ Chí Minh là người đầu tiên chủ trương phát triển cơ cấu kinh tế nhiều thành phần trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
-Bên cạnh chế độ và quan hệ sở hữu, Hồ Chí Minh rất coi trọng quan hệ phân phối và quản lý kinh tế. Quản lý kinh tế phải dựa trên cơ sở hạch toán, đem lại hiệu quả cao, sử dụng tốt các đòn bẩy trong phát triển sản xuất.
*Trong lĩnh vực văn hóa - xã hội:
-Hồ Chí Minh nhấn mạnh đến vấn đề xây dựng con người mới. Đặc biệt, Hồ Chí Minh đề cao vai trò của văn hóa, giáo dục và khoa học kỹ thuật trong xã hội xã hội chủ nghĩa.
-Người cho rằng, muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội nhất định phải có học thức, cần phải học cả văn hóa, chính trị, kỹ thuật và chủ nghĩa xã hội cộng với khoa học chắc chắn đưa loài người đến hạnh phúc vô tận. Hồ Chí Minh rất coi trọng việc nâng cao dân trí, đào tạo và sử dụng nhân tài.
Câu 5.Phân tích tư tưởng HCM về vấn đề dân tộc thuộc địa
*Quan điểm của Mác-Ăngghen-Lênin về vấn đề dân tộc
-Khái niệm: Dân tộc là một vấn đề rộng lớn bao gồm những quan hệ về chính trị, kinh tế, lãnh thổ, pháp lý, tư tưởng và văn hoá giữa các dân tộc, các nhóm dân tộc và bộ tộc.
-Quan điểm của chủ nghĩa Mác: Dân tộc là sản phẩm của lịch sử. Mác-Ăngghen đã đặt nền tảng lý luận cho việc giải quyết vấn đề dân tộc một cách khoa học.
-Lênin đã phát triển quan điểm về vấn đề dân tộc thành hệ thống lý luận toàn diện và sâu sắc.
*Vấn đề dân tộc theo tư tưởng Hồ Chí Minh – là vấn đề dân tộc thuộc địa
-“Vấn đề dân tộc thuộc địa thực chất là vấn đề đấu tranh giải phóng của các dân tộc thuộc địa nhằm thủ tiêu sự thống trị của nước ngoài, giành độc lập dân tộc, xoá bỏ áp bức, bóc lột thực dân, thực hiện quyền dân tộc tự quyết, thành lập nhà nước dân tộc độc lập”.

Độc lập, tự do là quyền thiêng liêng bất khả xâm phạm của tất cả các dân tộc.
- “Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”.
+Độc lập, tự do là khát vọng lớn nhất của các dân tộc thuộc địa. Độc lập hoàn toàn và thật sự trên tất cả các mặt kinh tế, chính trị, quân sự, ngoại giao. Trong nền độc lập, mọi người đều được ấm no, tự do, hạnh phúc.
+Độc lập thật sự phải gắn với hoà bình thật sự. “Nhân dân chúng tôi thành thật mong muốn hoà bình…kiên quyết chiến đấu đến cùng để bảo vệ những quyền thiêng liêng nhất: toàn vẹn lãnh thổ cho Tổ quốc và độc lập cho đất nước”.
+Độc lập dân tộc phải gắn liền với sự thống nhất toàn vẹn lãnh thổ quốc gia.
Chủ nghĩa dân tộc là một động lực lớn ở các nước đang đấu tranh giành độc lập
+Chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa dân tộc là một động lực to lớn của đất nước.
+Chủ nghĩa dân tộc là chủ nghĩa yêu nước và sự thức tỉnh ý thức dân tộc. “Phát động chủ nghĩa dân tộc bản xứ nhân danh Quốc tế cộng sản…”, đó là chủ nghĩa dân tộc chân chính.
Kết hợp nhuần nhuyễn giữa dân tộc với giai cấp, độc lập dân tộc và CNXH, chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế.
+Độc lập dân tộc gắn liền với CNXH. Hồ Chí Minh xác định con đường cách mạng Việt Nam phải trải qua hai giai đoạn: làm “tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”. Do đó, “giành được độc lập rồi phải tiến lên CNXH…”. “yêu Tổ quốc, yêu nhân dân phải gắn liền với yêu chủ nghĩa xã hội”.
+Độc lập cho dân tộc mình và cho tất cả các dân tộc khác. “Phải đấu tranh cho tự do, độc lập của các dân tộc khác như là đấu tranh cho dân tộc ta vậy”.
Câu 6: Phân tích những luận điểm của HCM về cách mạng giải phóng dân tộc
*Cách mạng giải phóng dân tộc muốn thắng lợi phải đi theo con đường cách mạng vô sản
Con đường cách mạng vô sản ở thuộc địa bao hàm nội dung sau:
Làm cách mạng giải phóng dân tộc giành chính quyền, dần dần từng bước “đi tới xã hội CS”.
Lãnh đạo cách mạng là giai cấp công nhân mà đội tiên phong là đảng cộng sản.
Lực lượng làm cách mạng là khối đại đoàn kết toàn dân mà nòng cốt là liên minh công-nông-trí.
Cách mạng Việt Nam là bộ phận khăng khít của cách mạng thế giới, phải đoàn kết quốc tế.
*Cách mạng giải phóng dân tộc trong thời đại mới phải do đảng cộng sản lãnh đạo
-Muốn giải phóng dân tộc thành công “trước hết phải có đảng cách mệnh…”, “cách mệnh phải làm cho dân giác ngộ”, “phải giảng giải lý luận và chủ nghĩa cho dân hiểu”, “sức cách mệnh phải tập trung, muốn tập trung phải có đảng cách mệnh”.
-Tháng 2/1930, Nguyễn Ái Quốc đã sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam, chính đảng của phong trào cách mạng nước ta.
*Lực lượng cách mạng giải phóng dân tộc bao gồm toàn dân tộc
Cách mạng giải phóng dân tộc là “việc chung của cả dân chúng chứ không phải việc một hai người”, phải đoàn kết toàn dân.
“Không dùng toàn lực của nhân dân về đủ mọi mặt để ứng phó, không thể nào thắng lợi được”.
Trong lực lượng đó “công–nông là gốc của cách mạng”, “còn học trò, nhà buôn nhỏ, điền chủ nhỏ…chỉ là bầu bạn cách mệnh của công nông thôi”.
“Trong khi liên lạc giai cấp, phải cẩn thận, không khi nào nhượng một chút lợi ích gì của công-nông mà đi vào thoả hiệp”.
*Cách mạng giải phóng dân tộc cần được tiến hành chủ động, sáng tạo và có khả năng giành được thắng lợi trước cách mạng vô sản ở chính quốc
-Cương lĩnh Đại hội VI Quốc tế cộng sản (1928) nêu: “chỉ có thể thực hiện hoàn toàn công cuộc giải phóng các nước thuộc địa khi giai cấp vô sản giành được thắng lợi ở các nước tư bản tiên tiến”.
-Theo Hồ Chí Minh, cách mạng thuộc địa và cách mạng vô sản chính quốc có mối liên hệ mật thiết với nhau trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc.
-“Chủ nghĩa tư bản là con đỉa hai vòi…” phải thực hiện liên minh chiến đấu giữa cách mạng vô sản chính quốc với cách mạng thuộc địa.
-Hồ Chí Minh đã nêu: “cách mạng thuộc địa không những không phụ thuộc vào cách mạng vô sản ở chính quốc mà có thể giành thắng lợi trước…”.
-Đây là luận điểm sáng tạo của Hồ Chí Minh đóng góp vào kho tàng lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin.
* Cách mạng giải phóng dân tộc phải được thực hiện bằng con đường cách mạng bạo lực
-Bạo lực cách mạng: Bạo lực cách mạng chống lại bạo lực phản cách mạng, giành lấy chính quyền và bảo vệ chính quyền.
- Hình thức của bạo lực cách mạng bao gồm cả đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ trang.
- Giải quyết xung đột bằng biện pháp hoà bình, thương lượng, nhượng bộ có nguyên tắc. Tư tưởng bạo lực cách mạng thống nhất với tư tưởng nhân đạo hoà bình.
-Phương châm chiến lược đánh lâu dài trong cách mạng giải phóng dân tộc:
“…trường kỳ kháng chiến, địch nhất định thua, ta nhất định thắng… Thắng lợi với trường kỳ phải đi đôi với nhau”.
- Tự lực cánh sinh là phương châm chiến lược quan trọng của bạo lực cách mạng.
+)Khơi dậy sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước và tinh thần dân tộc, nguồn động lực mạnh mẽ để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
+)Quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh, nhận thức và giải quyết vấn đề dân tộc trên quan điểm giai cấp.
+)Chăm lo xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc, giải quyết tốt mối quan hệ giữa các dân tộc anh em trong cộng đồng dân tộc Việt Nam.
Câu 07: Hãy ptích và làm rõ sáng tạo của HCM về sự ra đời của Đảng Cộng sản VN và bản chất của Đảng.
a) Về sự ra đời của Đảng CSVN.
-Đề cập các yếu tố cho sự ra đời của Đảng CS, x/phát từ hcảnh cụ thể của nc Nga và ptrào công nhân châu Âu, V.I.Lênin nêu 2 ytố, đó là sự k/hợp chủ nghĩa Mác với ptrào công nhân.
-Khi đề cập sự hthành Đảng CSVN, bên cạnh 2 ytố chủ nghĩa Mác - Lênin và ptrào công nhân, HCM còn kể đến ytố thứ 3 đó là ptrào yêu nc.
-Đây chính là 1 qđiểm qtrọng của HCM về sự hthành Đảng CSVN, là sự ptriển stạo chủ nghĩa Mác - Lênin trên cơ sở tổng kết thực tiễn VN.
HCM thấy rõ vtrò to lớn của chủ nghĩa Mác - Lênin đối vs CMVN và vs qtrình hthành Đảng CSVN. Đồng thời, Người cũng đgiá cao vtrí, vtrò lđạo của gcấp công nhân VN trong sắp xếp lực lượng CM.
-Nhưng tại sao HCM lại nêu thêm yếu tố ptrò yêu nc, coi nó là 1 trong 3 ytố dẫn đến việc hình thành Đảng CSVN? Điều này có những lí do sau:
+Một là, ptrào yêu nc có vtrí, vtrò cực kì to lớn trong qtrình ptriển của dtộc VN.
+Hai là, ptrào công nhân k/hợp vs ptrào yêu nc bởi vì 2 ptrào đó có mtiêu chung.
+Ba là, ptrào nông dân k/hợp vs ptrào công nhân.
+Bốn là, ptrào yêu nc của trí thức VN là nhân tố qtrọng thúc đẩy sự k/hợp các ytố cho sự ra đời của Đảng CSVN.
b) Bản chất của Đảng CSVN.
-HCM khẳng định: Đảng CSVN là Đảng của gcấp công nhân, đội tiên phong là gcấp công nhân, mang bchất của gcấp công nhân.
-Những qđiểm trên của HCM hoàn toàn tuân thủ qđiểm của V.I.Lênin về xd đảng kiểu mới của gcấp vô sản. Nhưng HCM còn có 1 cách thể hiện khác về vđề "đảng của ai".
-Tuy có nhiều cách thể hiện khác nhau nhưng qđiểm nhất quán của HCM về bản chất gcấp của Đảng là Đảng ta mang bchất gcấp công nhân. Điều này cũng giống như Đảng ta đã mang tên Đảng Lao động nhưng bản chất gcấp của Đảng là Đảng chỉ là bchất gcấp công nhân.
-HCM kđịnh bchất gcấp công nhân của Đảng ta dựa trên csở thấy rõ sứ mệnh lsử của gcấp công nhân VN, tuy số lượng ít so vs dân số nhưng có đầy đủ pchất và năng lực lđạo đnc thực hiện những mtiêu CM. Còn các gcấp, tầng lớp khác chịu sự lđạo của gcấp công nhân, trở thành đồng minh của gcấp công nhân.
-Bản chất gcấp của Đảng là Đảng chỉ là bchất gcấp công nhân nhưng Đảng đại diện cho l/ích của toàn dtộc cho nên nhdân VN coi Đảng CSVN là Đảng của chính mình. Trong thphần của qniệm của Đảng ko những là Đảng của gcấp công nhân mà còn là Đảng của nhdân lđộng và của toàn dtộc có ý nghĩa lớn đối vs CMVN. mình, ngoài công nhân còn có những người ưu tú trong gcấp nông dân, tri thức và các thphần khác.
Câu 08: Hãy phân tích quan điểm của Hồ Chí Minh về Nhà nước của dân, do dân, vì dân.
Hiểu 1 cách tổng quát nhất qđiểm về Nhà nước của dân, do dân, vì dân, chúng ta thấy trong di sản tư tưởng Hồ Chí Minh những nội dung cơ bản sau đây:
a) Nhà nước của dân.
-Quan điểm nhất quán của Hồ Chí Minh là xác lập tất cả mọi quyền lực trong nhà nước và trong xã hội đều thuộc về nhân dân. Trong 24 năm làm Chủ tịch nước, Hồ Chí Minh đã lãnh đạo soạn thảo hai bản Hiến pháp, đó là Hiến pháp năm 1946 và Hiến pháp năm 1959. Quan điểm trên của Người được thể hiện trong các bản Hiến pháp đó.
Nhân dân lao động làm chủ Nhà nước thì dẫn đến một hệ quả là nhân dân có quyền kiểm soát Nhà nước, cử tri bầu ra các đại biểu, ủy quyền cho các đại biểu đó bàn và quyết định những vấn đề quốc kế dân sinh.
Hồ Chí Minh đã nêu lên quan điểm dân là chủ và dân làm chủ. Dân là chủ có nghĩa là xác định vị thế của dân, còn dân làm chủ có nghĩa là xác định quyền, nghĩa vụ của dân.
Quyền lực của nhân dân được đặt ở vị trí tối thượng. Điều này có ý nghĩa thực tế nhắc nhở những người lãnh đạo, những đại biểu của nhân dân làm đúng chức trách và vị thế của mình, không phải là đứng trên nhân dân, coi khinh nhân dân, "cậy thế" với dân, "quên rằng dân bầu mình ra là để làm việc cho dân". Một nhà nước như thế là một nhà nước tiến bộ trong bước đường phát triển của nhân loại.
b) Nhà nước do dân.
-Nhà nước do dân lập nên, do dân ủng hộ, dân làm chủ. Chính vì vậy, Hồ Chí Minh thường nhấn mạnh nhiệm vụ của những người cách mạng là phải làm cho dân hiểu, làm cho dân giác ngộ để nâng cao được trách nhiệm làm chủ, nâng cao được ý thức trách nhiệm chăm lo xây dựng nhà nước của mình.
-Hồ Chí Minh khẳng định: việc nước là việc chung, mỗi người đều phải có trách nhiệm "ghé vai gánh vác một phần". Quyền lợi, quyền hạn bao giờ cũng đi đôi với trách nhiệm, nghĩa vụ.
-Trong tt HCM về xd nnc VN mới, nhdân có đủ đk cả về pluật và thực tế để thgia qlí nnc. Người nêu rõ quyền của dân, Nhà nc do dân tạo ra và nhdân thgia qlí là ở chỗ:
+Toàn bộ công dân bầu ra Quốc hội - cơ quan quyền lực cao nhất của nnc.
+Quốc hội bầu ra chủ tịch nc, UB thường vụ Quốc hội và Hội đồng chính phủ (nay gọi là Chính phủ).
+ Hội đồng chính phủ là cơ quan hchính cao nhất của nnc.
+Mọi công việc của bộ máy nnc trong việc qlí XH đều thực hiện ý chí của dân (thông wa Quốc hội do dân bầu ra).
c) Nhà nước vì dân.
-Nhà nước vì dân là một nhà nước lấy lợi ích chính đáng của nhân dân làm mục tiêu, tất cả đều vì lợi ích của nhân dân, ngoài ra không có bất cứ một lợi ích nào khác. Đó là một nhà nước trong sạch, không có bất kỳ một đặc quyền, đặc lợi nào.
-Trên tinh thần đó Hồ Chí Minh nhấn mạnh: mọi đường lối, chính sách đều chỉ nhằm đưa lại quyền lợi cho dân; việc gì có lợi cho dân dù nhỏ cũng cố gắng làm, việc gì có hại cho dân dù nhỏ cũng cố gắng tránh. Dân là gốc của nước.
-Hồ Chí Minh luôn luôn tâm niệm: phải làm cho dân có ăn, phải làm cho dân có mặc, phải làm cho dân có chỗ ở, phải làm cho dân được học hành. Cả cuộc đời Người "chỉ có một mục đích là phấn đấu cho quyền lợi Tổ quốc và hạnh phúc của quốc dân".
-Một Nhà nước vì dân, theo quan điểm của Hồ Chí Minh, là từ chủ tịch nước đến công chức bình thường đều phải làm công bộc, làm đày tớ cho nhân dân chứ không phải "làm quan cách mạng" để "đè đầu cưỡi cổ nhân dân" như dưới thời đế quốc thực dân.
Câu 09: Hãy ptích quan điểm của HCM về xây dựng một Nhà nước pháp quyền có hiệu lực pháp lý mạnh mẽ.
-Hồ Chí Minh đã sớm thấy được tầm quan trọng của pháp luật trong quản lý xã hội. Điều này thể hiện trong bản Yêu sách của nhân dân An Nam do Người ký tên là Nguyễn ái Quốc gửi đến Hội nghị Vécxây (Pháp) năm 1919.
-Sau này, khi trở thành người đứng đầu Nhà nước Việt Nam mới, Hồ Chí Minh càng quan tâm sâu sắc hơn việc xây dựng và điều hành nhà nước một cách có hiệu quả bằng pháp quyền. Một nhà nước có hiệu lực pháp lý mạnh mẽ được Hồ Chí Minh chú ý xây dựng thể hiện trên những điểm sau đây:
a) Xây dựng một Nhà nước hợp pháp, hợp hiến.
-Chỉ một ngày sau khi đọc bản Tuyên ngôn độc lập, trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời, Hồ Chí Minh đã đề nghị tổ chức tổng tuyển cử càng sớm càng tốt để lập Quốc hội rồi từ đó lập ra Chính phủ và các cơ quan, bộ máy chính thức khác của Nhà nước mới.
-Cuộc Tổng tuyển cử được tiến hành thắng lợi ngày 6-1-1946 với chế độ phổ thông đầu phiếu và lần đầu tiên trong lịch sử hàng nghìn năm của dân tộc Việt Nam cũng như lần đầu tiên ở Đông Nam châu á, tất cả mọi người dân từ 18 tuổi trở lên, không phân biệt nam nữ, giàu nghèo, dân tộc, đảng phái, tôn giáo... đều đi bỏ phiếu bầu những đại biểu của mình vào trong Quốc hội.
-Ngày 2 - 3 - 1946, Quốc hội Khóa I đã họp Phiên đầu tiên lập ra các tổ chức, bộ máy và các chức vụ chính thức của Nhà nước. Hồ Chí Minh được bầu làm Chủ tịch Chính phủ liên hiệp đầu tiên. Đây chính là Chính phủ có đầy đủ giá trị pháp lý để giải quyết một cách có hiệu quả những vấn đề đối nội và đối ngoại ở nước ta.
b) Hoạt động quản lý nhà nước bằng hiến pháp, pháp luật và chú trọng đưa pháp luật vào trong cuộc sống.
-Quản lý nhà nước là quản lý bằng bộ máy và bằng nhiều biện pháp khác nhau nhưng quan trọng nhất là quản lý bằng hệ thống luật, trong đó quan trọng bậc nhất là Hiến pháp - đạo luật cơ bản của nước nhà.
-Các bản Hiến pháp năm 1946 và Hiến pháp năm 1959 đã để lại dấu ấn đậm nét những quan điểm của Hồ Chí Minh về bản chất, thiết chế và hoạt động của Nhà nước mới.
-Từ năm 1919, Hồ Chí Minh đã đề cập vấn đề "thần linh pháp quyền" trong đời sống xã hội hiện đại. Có Hiến pháp và pháp luật nhưng không đưa được vào trong cuộc sống thì xã hội cũng sẽ bị rối loạn.
-"Thần linh pháp quyền" là sức mạnh do con người và vì con người. Do vậy, Hồ Chí Minh bao giờ cũng đòi hỏi mọi người phải hiểu và tuyệt đối chấp hành pháp luật, bất kể người đó giữ cương vị nào.
-Người cho rằng công tác giáo dục pháp luật cho mọi người, đặc biệt cho thế hệ trẻ, trở nên cực kỳ quan trọng trong việc xây dựng một nhà nước pháp quyền, bảo đảm mọi quyền và nghĩa vụ công dân được thực thi trong cuộc sống.
c) Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức đủ đức và tài.
-Để xây dựng một Nhà nước pháp quyền vững mạnh, vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức được Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm.
-Đi vào những mặt cụ thể, chúng ta thấy Hồ Chí Minh nêu lên những yêu cầu sau đây về xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức:
+Một là: Tuyệt đối trung thành với cách mạng. Đây là yêu cầu đầu tiên cần có đối với đội ngũ này.
+Hai là: Hăng hái, thành thạo công việc, giỏi chuyên môn, nghiệp vụ.
+Ba là: Phải có mối liên hệ mật thiết với nhân dân. Hồ Chí Minh luôn luôn chủ trương xây dựng mối quan hệ bền chặt giữa đội ngũ cán bộ, công chức với nhân dân.
+Bốn là: Cán bộ, công chức phải là những người dám phụ trách, dám quyết đoán, dám chịu trách nhiệm, nhất là trong những tình huống khó khăn, "thắng không kiêu, bại không nản". Đó là những người có ý thức sẵn sàng làm "công bộc", làm "đày tớ" cho dân, những người cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, làm việc với tinh thần đầy sáng tạo.
+Năm là, phải thường xuyên tự phê bình và phê bình, luôn luôn có ý thức và hành động vì sự lớn mạnh, trong sạch của Nhà nước
Câu 10: Ptích quan điểm của HCM về xây dựng một Nhà nước trong sạch vững mạnh, hoạt động có hiệu quả.
-Xây dựng một Nhà nước của dân, do dân, vì dân không bao giờ tách rời với việc làm cho Nhà nước luôn luôn trong sạch, vững mạnh. Điều này luôn luôn thường trực trong tâm trí và hành động của Hồ Chí Minh.
a)Đề phòng và khắc phục những tiêu cực trong hoạt động của Nhà nước.
-Khi nước nhà vừa giành được độc lập, chính quyền cách mạng còn non trẻ cũng như lúc cách mạng chuyển giai đoạn, HCM càng chú ý hơn bao giờ hết đến việc bảo đảm cho sự trong sạch, vững mạnh của các cấp chính quyền, bởi vì thường những lúc đó cách mạng đứng trước những thử thách rất gay gắt.
-Đặc quyền, đặc lợi. Xây dựng Nhà nước trong sạch, vững mạnh đòi hỏi phải tẩy trừ những thói cậy mình là người trong cơ quan chính quyền để cửa quyền, hách dịch với dân, lạm quyền, đồng thời để vơ vét tiền của, lợi dụng chức quyền để làm lợi cho cá nhân mình, làm như thế tức là sa vào chủ nghĩa cá nhân.
- Tham ô, lãng phí, quan liêu. Hồ Chí Minh coi tham ô, lãng phí, quan liêu là "giặc nội xâm", "giặc ở trong lòng", thứ giặc nguy hiểm hơn giặc ngoại xâm. Người phê bình những người "lấy của công dùng vào việc tư, quên cả thanh liêm, đạo đức". Quan điểm của Hồ Chí Minh là: "Tham ô, lãng phí và bệnh quan liêu, dù cố ý hay không, cũng là bạn đồng minh của thực dân và phong kiến...Tội lỗi ấy cũng nặng như tội lỗi Việt gian, mật thám".
-Lãng phí là một căn bệnh mà Hồ Chí Minh lên án gay gắt và chính bản thân Người là tấm gương sáng trong việc tích cực thực hành chống lãng phí trong cuộc sống hàng ngày và trong công việc. Lãng phí ở đây được Hồ Chí Minh xác định là lãng phí sức lao động, lãng phí thời giờ, lãng phí tiền của.
-Hồ Chí Minh kịch liệt lên án tệ kéo bè, kéo cánh làm mất tính đoàn kết và giảm vai trò của Chính Phủ
b) Tăng cường pháp luật đi đôi với đẩy mạnh giáo dục đạo đức cách mạng.
-Hồ Chí Minh đã kết hợp một cách nhuần nhuyễn giữa quản lý xã hội bằng pháp luật với phát huy những truyền thống tốt đẹp trong đời sống cộng đồng người VN được hình thành qua hàng nghìn năm lịch sử.
-Vi cương vị là Chủ tịch nước, Hồ Chí Minh luôn có thống nhất hài hòa giữa lý trí và tình cảm, nghiêm khắc, bao dung, nhân ái nhưng không bao che cho những sai lầm, khuyết điểm của bất cứ ai.
-Do đó, Hồ Chí Minh yêu cầu pháp luật phải thẳng tay trừng trị những kẻ bất liêm, bất kỳ kẻ ấy ở địa vị nào, làm nghề nghiệp gì. Bên cạnh đó, HCM dùng sức mạnh uy tín của mình để cảm hóa những người có lỗi lầm, kéo họ đi với cách mạng, giáo dục những người mắc khuyết điểm để họ tránh phạm pháp.
Câu 11: Hãy phân tích tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của đại đoàn kết dân tộc trong sự nghiệp cách mạng.
*) Đại đoàn kết dân tộc là vấn đề có ý nghĩa chiến lược quyết định thành công của Cách mạng.
+ Tư tưởng đại đoàn kết dân tộc của HCM là tư tưởng cơ bản nhất quán và xuyên suốt tiến trính Cách mạng Việt Nam. Đó là chiến lược tập hợp mọi lực lượng có thể tập hợp được nhằm hình thành sức mạnh to lớn của dân tộc trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù của dân tộc. HCM khẳng định: Muốn đưa Cách mạng đến thành công phải có lực lượng đủ mạnh để chiến thắng kẻ thù và xây dựng xã hội mới. Muốn được như vậy, phải đoàn kết quy tụ. Trong tư tưởng HCM, đại đoàn kết dân tộc trở thành vấn đề chiến lược của Cách mạng, là vấn đề sống còn quyết định thắng bại của Cách mạng.
+ Theo HCM, để quy tụ được mọi lực lượng vào khối đại đoàn kết toàn dân cần phải có chính sách, phương pháp hợp lý trong từng giai đoạn Cách mạng với từng đối tượng và trước những yêu cầu, nhiệm vụ khác nhau.
+ HCM đã nêu nhiều luận điểm để khẳng định vai trò của đại đoàn kết dân tộc:
- Đoàn kết là sức mạnh, là then chốt của mọi thành công.
- Đoàn kết là sức mạnh, đoàn kết là thắng lợi.
- Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công"...

+ Để thực hiện được đại đoàn kết dân tộc tạo ra lực lượng Cách mạng to lớn của HCM, một điều căn bản phải làm được là: xác định, phân biệt rõ bạn và thù, phải làm tăng bầu bạn và bớt thù. (Bạn: nhân dân các nước. Thù: thực dân, phát xít, đế quốc, tay sai phản động).
*) Đại đoàn kết dân tộc là mục tiêu, nhiệm vụ hàng đầu của Đảng, của dân tộc.
+ Khẳng định tư tưởng đại đoàn kết dân tộc, theo HCM, phải được quán triệt trong mọi đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng. Với điều kiện không chỉ có một chiến lược, chủ trương, mà là mục tiêu Cách mạng, là nhiệm vụ hàng đầu của Đảng, của dân tộc.
+ Ngày 3/3/1951: HCM đã thay mặt Đảng tuyên bố trước dân tộc: Mục đích của Đảng lao động Việt Nam có thể gồm 8 chữ là: "Đoàn kết toàn dân. Phụng sự Tổ quốc".
+ Xét về bản chất thì đại đoàn kết dân tộc chính là đòi hỏi khách quan của bản thân quần chúng nhân dân trong cuộc đấu tranh để tự giải phóng, là sự nghiệp của quần chúng, do quần chúng, vì quần chúng. Đảng tiên phong Cách mạng có sứ mệnh lịch sử là thức tỉnh, tập hợp, hướng dẫn, chuyển những đòi hỏi khách quan, tự phát của quần chúng thành những đòi hỏi tự giác, thành hiện thực có tổ chức, thành sức mạnh vô địch của quần chúng, thực hiện mục tiêu Cách mạng của quần chúng.



Number one


Wed Mar 09, 2011 9:18 pm
avatar
[Thành viên] - Admin
»♥(¯Administartor¯)♥«
»♥(¯Administartor¯)♥«
Tổng số bài gửi : 127
Points : 381
Được cám ơn : 5
Bị dụ dỗ ngày : 18/10/2010
Age : 26
Đến từ : Niềm đam mê

Bài gửiTiêu đề: Re: Tư tưởng HCM
Xem lý lịch thành viên http://dhtoank9.4umer.com

Câu 12: Hình thức tổ chức khối đại đoàn kết dân tộc- liên hệ thực tiễn
1. Quan điểm của HCM về hình thức tổ chức đại đoàn kết dân tộc
a. Hình thức của khối đại đoàn kết dtộc là mặt trận dân tộc thống nhất
- Toàn dtộc chỉ trở thành lực lượng to lớn, có sức mạh vô địch trong đấu tranh bảo vệ và XD tổ quốc khi được tập hợp, tổ chức lại thành một khối vững chắc, được giác ngộ về mục tiêu chiến đấu chung và hoạt động theo một đường lối chính trị đúng đắn. Thất bại của các phong trào yêu nước và giải phóng dtộc ở VN trước khi Đ ta ra đời đã chứng minh rất rõ điều này
- Mặt trận dtộc thống nhất là nơi quy tụ mọi tổ chức và cá nhân yêu nước, nơi tập hợp mọi con dân nước việt, ko chỉ ở trong nc mà còn bao gồm cả những người VN định cư ở nc ngoài, dù bất cứ phương trời nào, nếu tấm lòng vẫn hướng về quê hương đất nước, về tổ quốc VN đều đc coi là thành viên của mặt trận
- Tuỳ theo từng thời kỳ, căn cứ vào yêu cầu và nhiệm vụ CM, cương lĩnh và điều lệ của mặt trận dtộc thống nhất có thể có những nét khác nhau, tên gọi của mặt trận dtôc thống nhất theo đó, cũng có thể khác nhau: Hội phản đế đồng minh (1930), Mặt trận dân chủ (1936), Mặt trận nhân dân phản đế (1939), Mặt trận việt minh (1941), mặt trận liên việt (1946), mặt trận dtộc giải phóng miền nam VN (1960), mặt trận tổ quốc VN (1955, 1976). Tất cả các tổ chức này chỉ là một đều phấn đầu vì mục tiêu chung là độc lập dtộc, thống nhất tổ quốc, tụ do và hạnh phúc của nhân dân
b. Một số nguyên tắc cơ bản về XD và hoạt động của Mặt trận dtộc thống nhất
- Mặt trận dtộc thống nhất phải được XD trên nền tảng khối liên minh công - nông - trí thức, đặt dưới sự lãnh đạo của Đ
+ Mặt trận dtộc thống nhất ko phải là môt tập hợp lỏng lẻo, ngẫu nhiên, tự phát của quần chúng nhân dân, mà là một khối đoàn kết chặt chẽ, có tổ chức trên nền tảng khối liên minh công - nông - trí thức, do ĐCS lãnh đạo
HCM viết "lực lượng chủ yếu trong khối đoàn kết dtộc là công nông, cho nên liên minh công nông là nền tảng của mặt trận dtộc thống nhất. Người lý giải sở dĩ phải lấy liên minh công nông làm nền tảng "vì họ là người trực tiếp sản xuất tất cả mọi tài phú làm cho XH sống. Vì họ đông hơn hết, mà cũng bị áp bức bót lột nặng nề hơn hết. Vì chí khí CM của họ chắc chắn, bền bỉ hơn của mọi tầng lớp khác"
+ làm CM phải có tri thức và tầng lớp trí thức rất quan trọng đối với CM. Người nói: trong sự nghiệp CM, trong sự nghiệp XD CNXH, lao động trí óc có một vai trò quan trọng và vẻ vang; và công nông trí thức cần đoàn kết chặt chẽ thành một khối
+ Theo HCM, đại đoàn kết là công việc của toàn dtộc, song nó chỉ có thể được củng cố và phát triển vững chắc khi được Đ lãnh đạo. Chính vì vậy HCM luôn xác định mối quan hệ giữa Đ và mặt trận là mối quan hệ máu thịt
+ Sự lãnh đạo của Đ đối với mặt trận vừa là một tất yếu, vừa phải có điều kiện
+ Để lãnh đạo mặt trận Đ phải có chính sách mặt trận đúng đắn, phù hợp với từng giai đoạn, từng thời kỳ của CM, phù hợp với quyền lợi và nguyện vọng của đại đa số nhân dân
- Mặt trận dtộc thống nhất phải hoạt động trên cơ sở bảo đảm lợi ích tối cao của dtộc, quyền lợi cơ bản của các tầng lớp nhân dân
+ HCM chỉ ra rằng, chỉ có thể thực hiện đoàn kết khi có chung một mục đích, một số phận. Nếu ko suy nghĩ như nhau, nếu ko có chung mục đích, chung số phận thì dù có kêu gọi đoàn kết thế noà đi nữa, đoàn kết vẫn ko thể có được
+ Mục đích chung của mặt trận dtộc thống nhất được HCM xác định cụ thể phù hợp với từng giai đoạn cách mạng, nhằm tập hợp tới mức cao nhất lực lượng dtộc vào khối đại đoàn kết. Như vậy độc lập tự do là mục đích cao nhất bất di bất dịch là ngọn cờ đoàn kết của mọi tầng lớp
- Mặt trận dtộc thống nhất phải đảm bảo hoạt động theo nguyên tắc hiệp thương dân chủ, bảo đảm đoàn kết ngày càng rộng rãi và bền vững
+ Nguyên tắc hiệp thương dân chủ đòi hỏi tất cả mọi vấn đề của mặt trận đều phải được đem ra để tất cả các thành viên cùng nhau bàn bạc công khai, để đi đến nhất trí, loại trừ mọi sư áp đặt hoặc dân chủ hình thức
+ Để thực hiện nguyên tắc hiệp thương dân chủ phải đứng vững trên lập trường giai cấp công nhân giải quyết hài hoà mối quan hệ giữa lợi ích dtộc và lợi ích giai cấp, lợi ích chung và lợi ích riêng, lợi ích lâu dài và lợi ích trước mắt. Giải quyết đúng đắn mối quan hệ lợi ích trong mặt trận dtộc thống nhất sẽ góp phần củng cố sự bền chặt, tạo sự đồng thuận, nhất trí cao và thực hiệ được mục tiêu: "đồng tình, đồng lòng, đồng minh"
- Mặt trận dtộc thống nhất là khối đoàn kết chặt chẽ, lâu dài, đoàn kết thực sự, chân thành, thân ái giúp đỡ nhau cùng tiến bộ
+ HCM nhấn mạnh phương châm "cầu đồng tồn dị" lấy cái chung để hạn chế cái riêng, cái khác biệt; mặt khác người nêu rõ "đoàn kết phải gắn với đấu tranh, đấu tranh để tăng cường đoàn kết"
+ Người viết: "Đoàn kết thực sự nghĩa là mục đích phải nhất trívà lập trường cũng phải nhất trí. Đoàn kết thực sự nghĩa là vừa đoàn kết vừa đoàn kết vừa đấu tranh, học những cái tốt của nhau, phê bình những cái sai của nhau và phê bình trên lập trường thân ái, vì nước,vì dân. Tóm lại, muốn tiến lên CNXH thì toàn dân cần đoàn kết lâu dài, đoàn kết thực sự và cùng nhau tiến bộ"
+ Thực hiện tư tưởng HCM trong quá trình XD, củng cố và phát triển mặt trận dân tộc thống nhất, một mặt, Đ ta luôn đấu tranh chống khuynh hướng cô độc, hẹp hòi, coi nhẹ việc tranh thủ tất cả mọi lực lượng có thể tranh thủ được vào mặt trận; mặt khác luôn đề phòng và đấu tranh chống mọi biểu hiện của khuynh hướng đoàn kết một chiều, vô nguyên tắc, đoàn kết mà ko có đấu tranh đúng mức trong nội bộ mặt trận
2. Liên hệ thực tiễn Việt Nam hiện nay
- Trong thời gian qua, nhìn chung, khối đại đoàn kết toàn dtôc trên nề tảng liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức được mở rộng hơn, là nhân tố quan trọng thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội, giữ vững ổn định chính trị xã hội của đất nước. Tuy nhiên, trong sự nghiệp đổi mới đang có yêu cầu cao về tập hợp sức mạnh của nhân dân thì việc tập hợp nhân dân vào mặt trận và các đoàn thể, các tổ chức xã hội còn nhiều hạn chế, nhất là khu vực kinh tế tư nhân, khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, ở một số vùng có đông đồng bào theo đạo, đồng bào dân tộc thiểu số
- Trong công cuộc đổi mới, mặt trận tổ quốc VN với tính chất là một tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện rộng lớn nhất của nhân dân ta, nơi thể hiện ý trí và nguyện vọng của mọi tầng lớp nhân dân, nơi hiệp thương và thống nhất hành động của các thành viên, đã phối hợp với chính quyền giải quyết ngày càng có hiệu quả những vấn đề bức xúc của nhân dân, thực hiện dân chủ, đổi mới xã hội, chăm lo lợi ích chính đáng của các tầng lớp nhân dân; tham gia ngày càng thiết thực vào việc xây dựng, giám sát, bảo vệ Đ và chính quyền
-Với tư cách là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân, mặt trận tổ quốc VN đã phối hợp ngày càng nhiều hơn với chính quyền các cấp từ trung ương đến địa phương trong việc thực hiện các nhiệm vụ kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng và đối ngoại nhằm cùng nhau nỗ lực xây dựng và bảo vệ tổ quốc
Câu 13:Trình bày tư tưởng HCM về nguyên tắc đại đoàn kết quốc tế.
*Đoàn kết trên cơ sở thống nhất mục tiêu và lợi ích có lý có tình.
Muốn thực hiên đoàn kết quốc tế trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc và các lực lượng phản động quốc tế, phải tìm ra được các điểm tương đồng về mục tiêu và lợi ích giữa các dân tộc, các lực lượng tiến bộ và phong trào cách mạng thế giới.
- Đối với pong trào cộng sản và công nhân quốc tế .HCM dâng cao ngọn cờ độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, thực hiên đoàn kết thống nhất trên nền tảng của chủ nghĩa Mac-leenin vè chủ nghĩa quốc tế vô sản, có lý có tình.
+ Là một chiến sĩ cách mạng quốc tế kiên định HCM đã suốt đời đấu tranh cho sự nghiệp củng cố khối đoàn kết, thống nhất giữa lực lượng cách mạng thế giới.
+ HCM đã chỉ ra rằng để thực hiên đoàn kết thống nhất trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế thì đoàn kết giữa các Đảng là điều kiện quan trọng nhất để bảo đảm cho phong trào cộng sản và công nhân toàn thắng trong cuộc đấu tranh vĩ đại chơ tương lai tươi sáng của toàn thể loài người
+ “Có lí” trước hết là phải tuân thủ những nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa Mac-lênin. Phải xuất phát từ lợi ích chug của cách mạng thế giới. Tuy nhiên việc tring thành với chủ nghĩa Mac-lenin đòi hỏi phải vận dụng sáng tạo có hiệu quả vào hoạt động thực tế của mỗi nước, mỗi đảng, tránh giáo điều
+ “ Có tình” là sự thông cảm tôn trọng lẫn nhau trên tinh thần của những người cùng chung lí tưởng cùng chung mục tiêu đấu tranh, phải khắc phục tư tưởng sô vanh, “nước lớn” , “đảng lớn” không “áp đặt” , “ức chế” , nói xấu, công khai công kích nhau, hoặc dùng các giải pháp về kinh tế chính trị …gây nên sức ép với nhau. “có tình” đòi hỏi trong mọi vấn đề phải chờ đợi nhau cùng nhận thức, cùng hành động vì lợi ích chung, lợi ích của mỗi quốc gia dân tộc, mỗi đảng phải được tôn trọng , song lợi ích đó không được phương hại đến lợi ích chung, lợi ích đảng khác, của dân tộc
- Đối với các dân tộc trên thế giới. HC giương cao ngọn cờ độc lập, tự do và quyền bình đẳng giữa các dân tộc.
+ Độc lập tự do cho mỗi dân tộc là tư tưởng nhất quán được HCM coi là chân lí là lẽ phải không ai chối cãi được. HCm không chỉ suốt đời đấu tranh cho độc lập tự do của dân tộc mình mà còn đấu tranh cho tự do độc lập của các dân tộc khác.
+ 9/1947. HCM tuyên bố chính sách đối ngoại của Vn là làm bạn với tất cả mọi nước dân chủ và không gây thù oán với một ai.
- Đối với các lực lượng tiến bộ trên thế giới, HCM giương cao ngọn cờ hòa bình và công lý.
+ Bắt nguồn từ truyền thống hòa hiểu của dân tộc VN kết hợp với chủ nghĩa nhân đạo cộng sản và những giá trị nhân văn nhân loại. trong suốt cuộc đời mình, HCM luôn giươn cao ngọn cờ Hòa Bình, đấu tranh cho hòa bình một nền hòa bình thực sự cho tất cả dân tộc. “ Hòa bình trong độc lập tự do”.
+ Giương cao ngọn cờ hoàn bình và đấu tranh bảo vệ hòa bình là tư tưởng bất di bất dịch của HCM. Nhưng đó không phải là 1 nền hòa bình trừu tượng mà là nền hòa bình chân chính xây dựng trên công bằng và lí tưởng, dân chủ. Chống chiến tranh xâm lược vì các quyền dân tộc cơ bản của mỗi quốc gia.
+ Trong suốt hai cuộc kháng chiến. quan điểm hòa bình trong công lí là sự thiết tha hòa bình trong sự tôn trọng độc lập và thống nhất đất nước của HCM và nhân dân VN đã làm rung động trái tim nhân loại. Nó lôi kéo các lực lượng tiến bộ trên thế giới hướng về nhân dân VN đòi chấm dứt chiến tranh, khôi phục hòa bình. Và thực tế đã hình thành mặt trận nhân dân thế giới, trong đó có cả nhân dan Pháp và nhân dân Mĩ, đoàn kết với nhân dân VN chống đế quốc xâm lược, góp phần kết thúc thắng lợi cho hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mĩ.
* Đoàn kết quốc tế là đoàn kết trên cơ sở độc lập tự chủ, tự lực, tự cường.
-Đoàn kết quốc tế là tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của các lực lượng quốc tế để tạo nên sức mạnh nội lực, nhằm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ cách mạng đặt ra. Để đoàn kết tốt thì phải có nội lực tốt. Nội lực là nhân tố quyết định, con người ngoại sinh chỉ phát huy tác dụng qua con ngưới nội sinh. Chính vì vậy, trong đấu tranh cách mạng, HCM đã nêu các khẩu hiệu………..?
- HCM còn chỉ rõ muốn tranh thủ được sự đồng tình của ……..quốc tế, Đảng phải có đường lối độc lập, tự chủ và đúng đắn. Sự đúng đắn và sáng tạo ấy của đảng và chủ tịch HCM đã làm nên thắng lợi của cách mạng tháng 8. Trong kháng chiến chống Mĩ với đường lối độc lập tực chủ giương cao 2 ngọn cờ Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội , kết hợp giữa lợi ích dân tộc với lợi ích quốc tế, Đảng ta đã tranh thủ phong trào nhân dân thế giới đoàn kết với nhân dân VN, tạo được tiếng nói chung và sự ủng hộ hiệu quả của các nước XHCN, đặc biệt là Liên Xô và TQ. Qua đó củng cố sự đoàn kết giữa các nước XHCN và phong trào cách mạng thế giới, tạo chỗ dựa để nhân dân thế giới ủng hộ VN đánh thắng cuộc chiến tranh xâm lược của đé quốc Mĩ.

Câu 14.Khái niệm về văn hóa theo tư tưởng HCM,vị trí vai trò chức năng…..
*Kh¸i niÖm vÒ v¨n ho¸ theo TTHCM
"Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa. Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn"
*VÞ trÝ vai trß cña v¨n ho¸
Văn hóa quan trọng ngang kinh tế, chính trị, xã hội.
- Chính trị, xã hội có được giải phóng thì văn hóa mới được giải phóng. Chính trị giải phóng mở đường cho văn hóa phát triển.
Dưới chế độ thực dân và phong kiến nhân dân ta bị nô lệ, bị đàn áp, thì văn nghệ cũng bị nô lệ, không thể phát triển. Theo Hồ Chí Minh, phải tiến hành cách mạng chính trị trước mà cụ thể ở Việt Nam là tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc để giành chính quyền, giải phóng chính trị, giải phóng xã hội, từ đó giải phóng văn hóa, mở đường cho văn hóa phát triển. Quan điểm của Hồ Chí Minh đã được thực tiễn Cách mạng Tháng Tám năm 1945 chứng minh là hoàn toàn đúng đắn.
- Xây dựng kinh tế để tạo điều kiện cho việc xây dựng và phát triển văn hóa.
Từ những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh đã chỉ rõ kinh tế thuộc về cơ sở hạ tầng, là nền tảng của việc xây dựng văn hóa, xây dựng kiến trúc thượng tầng. Người cho rằng, "cơ sở hạ tầng xã hội có kiến thiết rồi, văn hóa mới kiến thiết được và có đủ điều kiện phát triển được". Như vậy, vấn đề đặt ra là kinh tế phải đi trước một bước. Tục ngữ có câu "có thực mới vực được đạo" cũng theo nghĩa như vậy. Trong xây dựng chủ nghĩa xã hội, Hồ Chí Minh đã tổng kết: Muốn tiến lên chủ nghĩa xã hội thì phải phát triển kinh tế và văn hóa... để nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân ta" (Hồ Chí Minh không bao giờ nói phát triển văn hóa trước kinh tế).
Văn hóa là một kiến trúc thượng tầng nhưng không thể đứng ngoài, mà phải ở trong kinh tế và chính trị. Văn hóa phải phục vụ nhiệm vụ chính trị, thúc đẩy xây dựng và phát triển kinh tế.
Tuy "kinh tế có kiến thiết rồi, văn hóa mới kiến thiết được", nhưng điều đó không có nghĩa là văn hóa "thụ động" chờ cho kinh tế phát triển xong rồi mới đến lượt mình phát triển. Văn hóa có tính tích cực chủ động, đóng vai trò to lớn thúc đẩy kinh tế và chính trị phát triển như một động lực.
"Văn hóa ở trong chính trị" tức văn hóa phải tham gia vào nhiệm vụ chính trị, tham gia cách mạng, kháng chiến và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Hồ Chí Minh nêu rõ: "Văn hóahóa kháng chiến, kháng chiến hóa văn hóa", hoặc đường lối kháng chiến toàn diện, thi đua trên mọi lĩnh vực,... là với ý nghĩa như vậy. Theo đó, một phong trào văn hóa cách mạng, văn hóa kháng chiến đã diễn ra rất sôi động, góp phần đắc lực vào thắng lợi của sự nghiệp kháng chiến kiến quốc.
"Văn hóa ở trong kinh tế" tức là văn hóa phải phục vụ, thúc đẩy việc xây dựng và phát triển kinh tế.
"Văn hóa ở trong kinh tế và chính trị" cũng có nghĩa là chính trị và kinh tế phải có tính văn hóa. Đây là một đòi hỏi chính đáng của văn hóa hiện đại. Làm chính trị, làm kinh tế... phải có văn hóa.
*Chøc n¨ng cña v¨n ho¸
Chức năng của văn hóa mới rất phong phú, đa dạng. Hồ Chí Minh cho rằng, văn hóa có ba chức năng chủ yếu sau đây:
Một là, bồi dưỡng tư tưởng đúng đắn và tình cảm cao đẹp.
Văn hóa thuộc đời sống tinh thần của xã hội. Tư tưởng và tình cảm là vấn đề chủ yếu nhất của đời sống tinh thần của xã hội và con người. Vì vậy, theo Hồ Chí Minh, văn hóa phải thấm sâu vào tâm lý quốc dân để thực hiện chức năng hàng đầu là bồi dưỡng nâng cao tư tưởng đúng đắn và tình cảm cao đẹp cho con người, đồng thời loại bỏ những tư tưởng sai lầm, tình cảm thấp hèn. Tư tưởng và tình cảm rất phong phú, nhưng phải đặc biệt quan tâm tới những tư tưởng và tình cảm chi phối đời sống tinh thần của mỗi con người và cả dân tộc.
Lý tưởng là điểm hội tụ của tư tưởng lớn. Hồ Chí Minh khẳng định văn hóa phải làm cho ai cũng có lý tưởng tự chủ, tự cường, độc lập, tự do; phải làm cho quốc dân "có tinh thần vì nước quên mình, vì lợi ích chung mà quên lợi ích riêng". Đó là lý tưởng độc lập dân tộc gắn liền chủ nghĩa xã hội, thực hiện nhiệm vụ giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người. Một khi con người đã phai nhạt lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội thì không còn ý nghĩa gì đối với cuộc sống cách mạng.
Tình cảm lớn, theo Hồ Chí Minh là lòng yêu nước, thương dân, thương nhân loại bị đau khổ, áp bức. Đó là tính trung thực, thẳng thắn, thủy chung; đề cao cái chân, cái thiện, cái mỹ... Tình cảm đó thể hiện trong nhiều mối quan hệ: với gia đình, quê hương, dân tộc, nhân loại, với bạn bè, đồng chí, quan hệ thầy trò...
Tư tưởng và tình cảm có mối quan hệ gắn bó với nhau. Tình cảm cao đẹp là con đường dẫn tới tư tưởng đúng đắn; tư tưởng đúng làm cho tình cảm cao đẹp hơn, làm cho con người ngày càng hoàn thiện. Văn hóa còn góp phần xây đắp niềm tin cho con người, tin ở bản chất khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tin vào nhân dân, tin vào tiền đồ của cách mạng.
Hai là, nâng cao dân trí.
Văn hóa luôn gắn với dân trí. Không có văn hóa không có dân trí. Văn hóa nâng cao dân trí theo từng nấc thang, phục vụ mục tiêu cách mạng trước mắt và lâu dài.
Nâng cao dân trí bắt đầu từ việc làm cho người dân biết đọc, biết viết. Tiếp đến là sự hiểu biết các lĩnh vực khác nhau về chính trị, kinh tế, văn hóa... Từng bước nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn nghiệp vụ, khoa học - kỹ thuật, thực tiễn Việt Nam và thế giới... Đó là quá trình bổ sung kiến thức mới, làm cho mọi người không chỉ là chuyển biến dân trí mà còn nâng cao dân trí, điều mà khi chính trị chưa được giải phóng thì không thể làm được.
Tùy từng giai đoạn cách mạng mà mục đích của nâng cao dân trí có điểm chung và riêng, nhưng tất cả đều nhằm mục tiêu chung là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; biến một nước dốt nát, cực khổ thành một nước có văn hóa cao và đời sống tươi vui hạnh phúc. Mục tiêu đó hiện nay Đảng ta chỉ rõ vì "dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh".
Ba là, bồi dưỡng những phẩm chất tốt đẹp, những phong cách, lối sống lành mạnh, luôn hướng con người vươn tới cái chân, cái thiện, cái mỹ, không ngừng hoàn thiện bản thân mình.
Những phẩm chất tốt đẹp làm nên giá trị của con người. Mỗi người phải biến tư tưởng và tình cảm lớn thành phẩm chất cao đẹp. Đó có thể là phẩm chất chính trị, phẩm chất đạo đức, phẩm chất chuyên môn, nghiệp vụ.
Có những phẩm chất đạo đức chung cho mọi người Việt Nam trong thời đại mới: cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Lại có những phẩm chất đạo đức dành cho các lĩnh vực hoạt động khác nhau của con người: phẩm chất nhà giáo, phẩm chất thầy thuốc...
Hồ Chí Minh đặc biệt nhấn mạnh phẩm chất đạo đức, chính trị của cán bộ, đảng viên. Bởi vì, nếu không có những phẩm chất đó thì không thể biến lý tưởng thành hiện thực. Phẩm chất thường được biểu hiện qua phong cách, tức là lối sinh hoạt, làm việc, hoạt động, xử sự của con người. Phẩm chất và phong cách thường gắn bó với nhau, và chỉ khi nào con người có phẩm chất tốt đẹp, phong cách lành mạnh thì mới thúc đẩy sự nghiệp cách mạng đi lên.
Muốn có được những phẩm chất và phong cách đó, tự bản thân con người rèn luyện chưa đủ, mà hoạt động văn hóa đóng chức năng rất quan trọng. Văn hóa phải tham gia chống được tham nhũng, lười biếng, phù hoa, xa xỉ, chống sự lạm dụng quyền lực, tham quyền cố vị dẫn tới sự tha hóa con người. Văn hóa giúp cho con người phân biệt cái tốt với cái xấu, cái lạc hậu và cái tiến bộ... Từ đó văn hóa hướng con người vươn tới cái chân, cái thiện, cái mỹ.
C©u 15: Mét sè lÜnh vùc chÝnh cña v¨n ho¸
Văn hóa giáo dục
Hồ Chí Minh phê phán nền giáo dục phong kiến (kinh viện, xa thực tế, coi sách của thánh hiền là đỉnh cao của tri thức...) và nền giáo dục thực dân (ngu dân, đồi bại, xảo trá, nguy hiểm hơn cả sự dốt nát).
Người quan tâm xây dựng nền giáo dục mới của nước Việt Nam độc lập. Nền giáo dục này được hình thành từ những năm hai mươi, thực sự ra đời từ Cách mạng Tháng Tám thành công và phát triển cùng sự nghiệp cách mạng của dân tộc. Hồ Chí Minh xác định, xây dựng nền giáo dục mới là một nhiệm vụ cấp bách, có ý nghĩa chiến lược, vì nó góp phần làm cho dân tộc ta xứng đáng với nước Việt Nam độc lập. Văn hóa giáo dục là một mặt trận quan trọng trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và đấu tranh thống nhất nước nhà.
Quan điểm của Hồ Chí Minh về văn hóa giáo dục:
- Mục tiêu của văn hóa giáo dục để thực hiện cả ba chức năng của văn hóa bằng giáo dục: Dạy và học để bồi dưỡng lý tưởng đúng đắn và tình cảm cao đẹp; mở mang dân trí; bồi dưỡng những phẩm chất và phong cách tốt đẹp cho con người. Giáo dục để đào tạo con người có ích cho xã hội. Học để làm việc, làm người, làm cán bộ. Giáo dục nhằm đào tạo lớp người có đức, có tài, kế tục sự nghiệp cách mạng, làm cho nước ta sánh vai cùng các cường quốc năm châu.
- Cải cách giáo dục bao gồm xây dựng chương trình, nội dung dạy và học hợp lý, phù hợp với các giai đoạn cách mạng. Nội dung giáo dục phải toàn diện: văn hóa, chính trị, khoa học - kỹ thuật, chuyên môn nghiệp vụ, lao động... Các nội dung đó có mối quan hệ mật thiết với nhau. Học chính trị là học chủ nghĩa Mác - Lênin, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước. Cách học phải sáng tạo, không giáo điều. Học để nắm các quan điểm có tính nguyên tắc, phương pháp luận. Học khoa học kỹ thuật để đáp ứng đòi hỏi của thời đại mới, thời đại của cách mạng khoa học - công nghệ đang phát triển như vũ bão.
- Phương châm, phương pháp giáo dục:
Phương châm bao gồm: học đi đôi với hành, lý luận liên hệ với thực tế; học tập kết hợp với lao động; phối hợp nhà trường - gia đình - xã hội; thực hiện dân chủ, bình đẳng trong giáo dục; học suốt đời. Coi trọng việc tự học, tự đào tạo và đào tạo lại. Học ở mọi lúc, mọi nơi, học mọi người.
Phương pháp giáo dục phải xuất phát và bám chắc vào mục tiêu giáo dục. Giáo dục là một khoa học nên cách dạy phải phù hợp với lứa tuổi; dạy từ dễ đến khó; kết hợp học tập với vui chơi có ích, lành mạnh; giáo dục phải dùng phương pháp nêu gương; giáo dục phải gắn liền với thi đua.
Quan tâm xây dựng đội ngũ giáo viên vì không có giáo viên thì không có giáo dục. Phải xây dựng đội ngũ giáo viên có phẩm chất yêu nghề; phải có đạo đức cách mạng; phải yên tâm công tác, đoàn kết; phải giỏi về chuyên môn, thuần thục về phương pháp. Người đi giáo dục cũng phải được giáo dục, phải học thêm mãi, học không bao giờ đủ, còn sống còn phải học.
Văn hóa văn nghệ
Văn nghệ được hiểu là văn học và nghệ thuật, biểu hiện tập trung nhất của nền văn hóa, là đỉnh cao của đời sống tinh thần, là hình ảnh của tâm hồn dân tộc. Hồ Chí Minh là người khai sinh nền văn nghệ cách mạng và có nhiều cống hiến to lớn, sáng tạo cho nền văn nghệ nước nhà. Sau đây là một số quan điểm chủ yếu của Hồ Chí Minh về văn hóa văn nghệ:
Văn nghệ là một mặt trận, văn nghệ sĩ là chiến sĩ, tác phẩm văn nghệ là vũ khí sắc bén trong đấu tranh cách mạng, trong xây dựng xã hội mới, con người mới.
Văn nghệ là mặt trận được hiểu nó là một bộ phận của cách mạng, là văn nghệ cách mạng. "Mặt trận" là thể hiện tính chất cam go, quyết liệt. Cho nên tác phẩm văn nghệ và ngòi bút của các văn nghệ sĩ phải là vũ khí sắc bén, là "phò chính trừ tà", là vạch trần, tố cáo tội ác, âm mưu của lực lượng thù địch đầu độc văn hóa; về chiêu bài "công lý", "dân chủ"... Đồng thời văn nghệ có vai trò thức tỉnh, định hướng, cổ vũ tinh thần đấu tranh, tổ chức lực lượng, động viên dân chúng phấn khởi, tin tưởng thực hiện thắng lợi chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước.
Có chính quyền, tính chất mặt trận của văn nghệ vẫn không giảm, mà lại tăng lên, nặng nề hơn. Bởi vì, xây dựng nền văn nghệ cách mạng là nhiệm vụ chủ yếu, lâu dài. Văn nghệ vừa tiếp tục tham gia kháng chiến, đấu tranh thống nhất nước nhà, vừa xây dựng xã hội mới, con người mới. Văn nghệ góp phần định hướng tư tưởng đúng đắn theo quan điểm của Đảng, bóc trần những thói hư tật xấu như tham ô, nhũng lạm, lãng phí, quan liêu... là những lực cản trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội. Mặt trận những người làm công tác văn nghệ dưới sự lãnh đạo của Đảng thực hiện nhiệm vụ "xây" và "chống", sẽ góp phần to lớn đưa cách mạng đến thắng lợi.
Văn nghệ sĩ là chiến sĩ, vì vậy, cần có lập trường vững, tư tưởng đúng đắn, đặt lợi ích và nhiệm vụ phụng sự nhân dân và Tổ quốc lên trên hết. Họ phải nâng cao trình độ chính trị, văn hóa, nghiệp vụ, đặc biệt phải có phẩm chất, bản lĩnh, tài năng để sáng tạo ra những sản phẩm tinh thần phục vụ cuộc sống, phục vụ nhân dân ngày càng tốt hơn.
- Phải gắn với thực tiễn của đời sống nhân dân.
Thực tiễn đời sống nhân dân là những nguồn nhựa sống của văn hóa văn nghệ. Đời sống lao động, chiến đấu, sinh hoạt, xây dựng... của nhân dân là chất liệu không bao giờ cạn, là sinh khí vô tận cho văn nghệ sáng tác. Văn nghệ sĩ có quyền hư cấu, song phải xuất phát và trở về với cuộc sống thực tại của con người, cái chân thật của sinh hoạt. Muốn làm được điều đó, phải "từ quần chúng ra, trở lại nơi quần chúng"; phải "liên hệ và đi sâu vào đời sống của nhân dân" để hiểu thấu tâm tư, nguyện vọng, tình cảm của quần chúng. Quần chúng là những người làm ra lịch sử, sáng tạo ra của cải vật chất và tinh thần. Họ là những người đánh giá tác phẩm văn nghệ trung thực, khách quan, chính xác. Nhân dân là người hưởng thụ các giá trị tinh thần.
-Phải có những tác phẩm xứng đáng với dân tộc và thời đại.
Đây là một khía cạnh phản ánh văn nghệ phục vụ quần chúng. Muốn phục vụ tốt quần chúng thì phải nâng cao chất lượng nội dung và hình thức của tác phẩm. Bởi vì quần chúng cần những tác phẩm hay, chân thật, hùng hồn, tạo cho họ sự đam mê, chuyển biến trong tư tưởng, tình cảm, tâm hồn. Nội dung cần chân thực và phong phú; hình thức phải trong sáng, vui tươi, tức là phải tạo nên một tác phẩm hay. Tác phẩm hay là tác phẩm cần diễn đạt vừa đủ những điều đáng nói, ai đọc cũng hiểu được, và đọc xong phải suy ngẫm và thấy có bổ ích.
Tác phẩm văn hóa, văn nghệ hay là tác phẩm phản ánh được những giá trị truyền thống của dân tộc, mang được hơi thở của thời đại; vừa phải ca ngợi cái chân thật người tốt, việc tốt, vừa phải phê phán cái giả, cái ác, cái sai. Những tác phẩm như vậy vừa làm gương mẫu cho các thế hệ hôm nay, vừa giáo dục nhắc nhở con cháu đời sau. Tác phẩm văn nghệ phải phong phú, đa dạng về thể loại, không thể đơn điệu, nghèo nàn. Chính món ăn tinh thần phong phú đó cũng sẽ mở ra con đường sáng tạo mới cho văn nghệ sĩ.
Văn hóa đời sống
Xây dựng đời sống văn hóa mới được Hồ Chí Minh chỉ ra ngay sau khi mới giành được chính quyền, rồi nhanh chóng trở thành một phong trào quần chúng sôi nổi, tạo động lực mạnh mẽ cho sự nghiệp kháng chiến kiến quốc.
Văn hóa đời sống thực chất là đời sống mới với ba nội dung: đạo đức mới, lối sống mới, nếp sống mới, trong đó đạo đức mới đóng vai trò chủ yếu nhất. Bởi vì, có dựa trên nền đạo đức mới thì mới xây dựng được lối sống mới, nếp sống mới, và đạo đức mới lại được thể hiện trong lối sống và nếp sống.
- Đạo đức mới: Thực hành đời sống mới trước hết là thực hành đạo đức cách mạng.
- Lối sống mới: Lối sống mới là lối sống có lý tưởng, có đạo đức; kết hợp hài hòa truyền thống tốt đẹp của dân tộc và tinh hoa văn hóa nhân loại tạo nên lối sống văn minh, tiên tiến. Hoạt động của con người gồm: ăn, mặc, ở, đi lại, làm việc. Tính văn hóaở đây là biết cách ăn, cách mặc, cách ở... Con người văn hóa trong lối sống là phải có một phong cách sống khiêm tốn, giản dị, chừng mực, điều độ, ngăn nắp, vệ sinh, yêu lao động, quý thời gian, ít lòng ham muốn về vật chất, về chức quyền, danh lợi. Trong quan hệ với nhân dân, bạn bè, đồng chí thì cởi mở, chân tình, ân cần, tế nhị; giàu lòng thương yêu, quý trọng con người; đối với mình thì nghiêm, đối với người thì khoan dung, độ lượng.
Sửa đổi cách làm việc là phải có tác phong quần chúng, tác phong tập thể - dân chủ, tác phong khoa học. Điều này đặc biệt cần thiết đối với cán bộ quản lý, lãnh đạo. Hồ Chí Minh yêu cầu ở đội ngũ cán bộ phải có phong cách sống, phong cách làm việc hợp lòng dân.
-Nếp sống mới: Xây dựng nếp sống mới (nếp sống văn minh) là xây dựng những thói quen và phong tục tập quán tốt đẹp, kế thừa và phát triển được những thuần phong mỹ tục lâu đời của dân tộc. Tất nhiên không phải cái gì cũ là bỏ hết, cái gì cũng làm mới. Cũ mà xấu thì bỏ. Cũ mà không xấu nhưng phiền phức thì sửa đổi. Cũ mà tốt thì phát triển thêm. Mới mà hay thì phải làm. Phải bổ sung, xây dựng thuần phong mỹ tục trong các vấn đề vệ sinh, giỗ tết, ma chay, cưới hỏi...; đồng thời phải chống các hủ tục như cờ bạc, hút xách...
Xây dựng nếp sống mới rất khó khăn, phức tạp, vì thói quen rất khó sửa đổi, nó có sức ỳ cản trở ta. Thực tế cho thấy, cái tốt mà lạ, người ta có thể cho là xấu; cái xấu mà quen, người ta có thể cho là thường. Vì vậy, quá trình đổi mới nếp sống phải rất cẩn thận, chịu khó, lâu dài, không thể dùng cách trấn áp thô bạo đối với cái cũ, lạc hậu. Phải tuyên truyền, giải thích một cách hăng hái, bền gan, chịu khó, cẩn thận, khôn khéo, mềm mỏng,... Phải dùng biện pháp nêu gương: người nêu gương, nhà làm gương, làng làm gương. Nói đi đôi với làm, nếu không, tuyên truyền giáo dục, xây dựng nếp sống mới khó đạt kết quả
Tóm lại, xây dựng văn hóa đời sống chung cho cả xã hội, phải bắt đầu từ từng người, từng gia đình.
Câu 16: phân tích quan điểm của Hồ Chí Minh về vai trò và sức mạnh của đạo đức
<1> Khái niệm đạo đức : Đạo đức là toàn bộ những quan niệm về thiện ác, lương tâm, danh dự, trách nhiệm, về lòng tự trọng, về công bằng hạnh phúc và về những quy tắc đánh giá, điều chỉnh hành vi ứng xử giữa người với người, cá nhân và xã hội.
<2>Quan điểm của HCM về vai trò và sức mạnh của đạo đức:
a/Đạo đức là cái gốc của người cách mạng : - Đạo đức cách mạng là gốc, là nền, là cái tạo ra những cái khác, cái mà những cái khác dựa vào đó để tồn tại và phát triển. Đạo đức cách mạng vừa là mục tiêu vừa là động lực của sự nghiệp cách mạng để đưa cách mạng tới thắng lợi.
-HCM là 1 nhà cách mạng quan tâm rất sớm, thường xuyên và đặt lên vị trí hàng đầu vấn đề đạo đức.Người cũng là 1 tấm gương đạo đức mẫu mực, ngay từ khi người ra đi tìm đường cứu nước từ ~ năm đầu thế kỉ XX đến khi Người mất, bản thân Người luôn nêu cao và là Người thực hành nhiều nhất vấn đề đạo đức.Người viết: Giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội là việc to lớn, nặng nề nhưng rất vẻ vang, mỗi người mà không có đạo đức, tự mình đã không có căn bản, đã hư hóa xấu xa thì làm nổi việc gì?
-Khi đánh giá vai trò của đạo đức trong đời sống , HCM khẳng định đạo đức là nguồn nuôi dưỡng và phát triển của con người. Người nói : "Cũng như sông có nguồn mới có nước ,không có nguồn thì sông cạn.Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo.Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi đến mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân."(HCM : Toàn tập ,t.5 , tr.252-253)
+Đối với Đảng viên , Bác nói : "Cán bộ là dây chuyền của máy.Nếu dây chuyền không chạy thì động cơ dù tốt , dù chạy toàn bộ máy cũng tê liệt.Cán bộ là những người đem chính sách của chính phủ, của đoàn thể thi hành trong nhân dân, nếu cán bộ dở thì chính sách hay cũng không thể thực hiện được".
+Đối với Đảng cầm quyền , Người yêu cầu :Đảng phải là đạo đức , là văn minh. Trong Di chúc Người căn dặn : "Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng , thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư.Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là đầy tớ trung thành của nhân dân." (HCM : Toàn tập ,t.12 , tr.498)
-HCM giải quyết mối quan hệ đúng đắn giữa đức và tài.Coi trọng cả đức và tài.Trong đức có tài và trong tài có đức nhưng đức phải có trước, đức phải là gốc rễ, tài là quan trọng.
-Kế thừa quan niệm đức - tài của phương Đông.Khổng Tử quan niệm con người như cái cây hoàn chỉnh.Ông nói : Đức giả bàn giả( đức là cội rễ) , Tài giả mạt giả(tài là ngọn cành).Như vậy, đức là gốc, là cái có trước , tài là phản ánh bên ngoài. Người quan niệm : Người có đức mà ko có tài giống như ông bụt ngồi ở trong chùa ko giúp được ai.Người có tài mà ko có đức là người vô dụng ko ~ ko có lợi mà còn có hại vì sớm hay muộn cũng trở thành người ăn của đút, nhận hối lộ và hủ hóa.
Như vậy, trong TTHCM , đức và tài , hồng và chuyên , phẩm chất và năng lực thống nhất làm một.Trong đó " đức là gốc của tài; hồng là gốc của chuyên , phẩm chất là gốc của năng lực."
b/Đạo đức là nhân tố tạo nên sức hấp dẫn của CNXH:
Theo quy luật, đạo đức văn minh sẽ chiến thắng bạo tàn, con người, ý chí con người sẽ chiến thắng vũ khí súng đạn của kẻ thù.Nếu có đạo đức cách mạng thì gặp khó khăn, gian khổ, thất bại cũng không sợ sệt, lùi bước, gặp thành công, thuận lợi cũng không tự kiêu mà vẫn giữ được tinh thần chất phát, khiêm tốn, lo trước thiên hạ vui sau thiên hạ, không công thần, quan liêu hủ hóa.
Do đó, chúng ta cần tu dưỡng đạo đức cách mạng trên tinh thần tự giác,tự nguyện, chống chủ nghĩa cá nhân để góp phần xây dựng 1 đất nước giàu mạnh,XH công bằng,dân chủ,văn minh và nhân dân có cuộc sống ấm no ,hạnh phúc.
Câu 17: Phân tích quan điểm của HCM về những chuẩn mực đạo đức cách mạng.
Chủ tịch Hồ Chí Minh là người nêu một tấm gương mẫu mực về thực hành đạo đức cách mạng để toàn Đảng, toàn dân noi theo. Suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, lãnh tụ Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm tới giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên và nhân dân. Thống kê trong di sản Hồ Chí Minh để lại có tới gần 50 bài và tác phẩm bàn về vấn đề đạo đức. Có thể nói, đạo đức là một trong những vấn đề quan tâm hàng đầu của Hồ Chí Minh trong sự nghiệp cách mạng.
Hồ Chí Minh quan niệm đạo đức là nền tảng và là sức mạnh của người cách mạng, coi đó là cái gốc của cây, ngọn nguồn của sông nước: Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng thì mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang vì sự nghiệp độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Người viết: “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân” Người quan niệm đạo đức tạo ra sức mạnh, nhân tố quyết định sự thắng lợi của mọi công việc: “Công việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hay kém”. Quan niệm lấy đức làm gốc của Hồ Chí Minh không có nghĩa là tuyệt đối hoá mặt đức, coi nhẹ mặt tài. Người cho rằng có tài mà không có đức là người vô dụng nhưng có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó. Cho nên, đức là gốc nhưng đức và tài phải kết hợp với nhau để hoàn thành nhiệm vụ cách mạng.
- Theo Hồ Chí Minh những chuẩn mực chung nhất của nền đạo đức cách mạng Việt Nam gồm những điểm sau:
Một là, trung với nước hiếu với dân.
Đây là phẩm chất quan trọng nhất, bao trùm nhất và chi phối các phẩm chất khác.
Từ khái niệm cũ "trung với vua, hiếu với cha mẹ" trong đạo đức truyền thống của xã hội phong kiến phương Đông, Hồ Chí Minh đưa vào đó một nội dung mới, phản ánh đạo đức ngày nay cao rộng hơn là “Trung với nước hiếu với dân”. Đó là một cuộc cách mạng trong quan niệm đạo đức.
“Trung với nước hiếu với dân, suốt đời phấn đấu hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc vì chủ nghĩa xã hội, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”. Câu nói đó của Người vừa là lời kêu gọi hành động, vừa là định hướng chính trị-đạo đức cho mỗi người Việt Nam không phải chỉ trong cuộc đấu tranh cách mạng trước mắt, mà còn lâu dài về sau
Hai là, yêu thương con người
Quan niệm của Hồ Chí Minh về con người rất toàn diện và độc đáo. Hồ Chí Minh đã xác định tình yêu thương con người là một trong những phẩm chất đạo đức cao đẹp nhất. Người dành tình yêu thương rộng lớn cho những người cùng khổ. Những người lao động bị áp bức bóc lột, Người viết: "Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành"
Hồ Chí Minh yêu thương đồng bào, đồng chí của Người, không phân biệt họ ở miền xuôi hay miền ngược, là trẻ hay già, trai hay gái... không phân biệt một ai, không trừ một ai, hễ là người Việt Nam yêu nước thì đều có chỗ trong tấm lòng nhân ái của Người.
Tình yêu thương của Người còn thể hiện đối với những người có sai lầm khuyết điểm. Với tấm lòng bao dung của một người cha, Người căn dặn, chúng ta: "Mỗi con người đều có thiện và ác ở trong lòng ta, phải biết làm cho phần tốt ở trong mỗi con người nảy nở như hoa mùa xuân và phần xấu bị mất dần đi, đó là thái độ của người cách mạng. Đối với những người có thói hư tật xấu, từ hạng người phản lại Tổ quốc và nhân dân, ta cũng phải giúp họ tiến bộ bằng cách làm cho cái phần thiện trong con người nảy nở để đẩy lùi phần ác, chứ không phải đập cho tơi bời"
Trong Di chúc, Người căn dặn Đảng: Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau, nhắc nhở mỗi cán bộ, đảng viên luôn luôn chú ý đến phẩm chất yêu thương con người
Ba là, cần kiệm liêm chính, chí công vô tư.
Theo Hồ Chí Minh thì: Cần tức là lao động cần cù, siêng năng; lao động có kế hoạch, sáng tạo, có năng suất cao; lao động với tinh thần tự lực cánh sinh, không lười biếng, không ỷ lại, không dựa dẫm. Phải thấy rõ "lao động là nghĩa vụ thiêng liêng, là nguồn sống, nguồn hạnh phúc của chúng ta".
Kiệm tức là tiết kiệm sức lao động, tiết kiệm thì giờ, tiết kiệm tiền của của dân, của nước, của bản thân mình; phải tiết kiệm từ cái to đến cái nhỏ, nhiều cái nhỏ cộng lại thành cái to; "không xa xỉ, không hoang phí, không bừa bãi", không phô trương hình thức, không liên hoan, chè chén lu bù.
Liêm tức là "luôn luôn tôn trọng giữ gìn của công và của dân"; "không xâm phạm một đồng xu, hạt thóc của Nhà nước, của nhân dân". Phải "trong sạch, không tham lam". "Không tham địa vị. Không tham tiền tài. Không tham sung sướng. Không ham người tâng bốc mình. Vì vậy mà quang minh chính đại, không bao giờ hủ hoá".
Chính, "nghĩa là không tà, thẳng thắn, đứng đắn". Đối với mình: không tự cao, tự đại, luôn chịu khó học tập cầu tiến bộ, luôn tự kiểm điểm để phát triển điều hay, sửa đổi điều dở của bản thân mình.
Đối với người: không nịnh hót người trên, không xem khinh người dưới, luôn giữ thái độ chân thành, khiêm tốn, đoàn kết thật thà, không dối trá, lừa lọc.
Đối với việc: để việc công lên trên, lên trước việc tư, việc nhà.
Chí công vô tư, Người nói: "Đem lòng chí công vô tư mà đối với người, với việc". “Khi làm bất cứ việc gì cũng đừng nghĩ đến mình trước, khi hưởng thụ thì mình nên đi sau”; phải "lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ".
Bốn là, tinh thần quốc tế trong sáng.
Đó là, tinh thần đoàn kết quốc tế vô sản, mà Hồ Chí Minh đã nêu lên bằng mệnh đề "Bốn phương vô sản đều là anh em"; là tinh thần đoàn kết với các dân tộc bị áp bức, với nhân dân lao động các nước, mà Hồ Chí Minh đã dày công vun đắp bằng hoạt động cách mạng thực tiễn của bản thân mình và bằng sự nghiệp cách mạng của cả dân tộc.
Câu 18: ý nghĩa việc học tập tư tưởng HCM đối với bản thân
. Ý nghĩa của việc học tập tư tưởng HCM đối với sinh viên
- Tư tưởng HCM là chủ nghĩa Mác-Lênin ở Việt Nam. Học tập tư tưởng HCM cần phải:
+ Nắm vững nội dung cốt lõi của hệ tư tưởng HCM, trang bị thế giới quan cách mạng theo tư tưởng của HCM.
+ Học tập nhân sinh quan cách mạng của HCM: đạo đức, nhân cách mẫu mực của tinh thần độc lập, tự chủ, đổi mới và sáng tạo.
- Tư tưởng HCM soi đường cho Đảng và nhân dân Việt Nam xây dựng mục tiêu: dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh.
- Đối với thanh niên, học sinh, sinh viên cần coi trọng rèn luyện, tu dưỡng giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức cách mạng... Đảng cần chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người vừa "hồng" vừa "chuyên". Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc quan trọng và rất cần thiết.
Câu 19: Những hiểu biết về danh nhân văn hóa HCM
* Khái niệm danh nhân văn hóa
-Là danh nhân văn hóa phải có đóng góp đặc biệt suất sắc cho dân tộc và văn hóa nhân loại, góp phần vào sự hiểu biết lân nhau trên thế giới, phải để lại những dấu ấn trong quá trình phát triển của lịch sử nhân loại. HCM là 1 trong những người như vậy.
-HCM sinh ngày 19.5.1890, mất 2.9.1969. Sinh ra trong một gia đình nhà nho yêu nước. Thân phụ của người là cụ Nguyễn Sinh Sắc, đậu phó bảng 1902, thân mẫu là cụ Hoàng Thị Loan là người phụ nữ đảm đang hết lòng vì chồng vì con.
* Đánh giá của tổ chức Unessco
-Năm 1990 tổ chức Unessco đã trao tặng danh hiệu “anh hùng giải phóng dân tộc” và danh nhân văn hóa kiệt xuất nhân kỉ niệm 100 năm ngày sinh của người.
-HCM đã để lại dấu ấn trong quá trình phát triển của nhân loại đã cống hiến cho sự nghiệp giải phóng dân tộc VN và góp phần vào cuộc đấu tranh của các dân tộc vì hòa bình, độc lập dân tộc dân chủ và tiến bộ xã hội trọn cả cuộc đời mình.
-HCM đã phát triển truyền thống văn hóa VN lên 1 tầm cao mới. Người là hiện thân của những khát vọng của các dân tộc trong việc khẳng định bản sắc của dân tộc mình và tiêu biểu cho việc thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc.
-Nhà thơ, nhà báo Xô Viết, Oxip Mandenxta đã ca ngợi “từ Nguyễn Ái Quốc tỏa ra một nền văn hóa không phải là văn hóa châu Âu mà có lẽ là nền văn hóa của tương lai
-Sự đánh giá giám đốc khu vực châu Á TBD của tổ chức Unessco. HCM là 1 trong số ít nhân vật lịch sử đã trở thành huyền thoại ngay từ khi còn sống.
* Phong cách ứng xử mang tính văn hóa
-Người ứng xử hết sức tinh tế, thể hiện đc đạo đức đặc trưng của người VN: Kính già yêu trẻ, tôn trọng phụ nữ.
-Người là nguyên thủ quốc gia nhưn sống 1 cuộc sống hết sức bình thường và giản dị.
-Người thông hiểu đông tây kim cổ nhưng không tự đặt mình cao hơn người khác, rất cao cả sâu sắc, thâm thúy, nhưng cũng rất gần gũi quan tâm đến việc rất nhỏ.
-Người là người lạc quan, ung dung, yêu đời, thư thái.
* Những sáng tác văn hóa của HCM
-Người là nhà thơ, nhà văn hóa lớn của dân tộc.
-Tác phẩm chính của người:
+) “Bản án chế độ thực dân Pháp” bằng tiếng Pháp
+) “Nhật kí trong tù” bằng tiếng Hán
-Bên cạnh đó người sáng tác hơn 100 bài thuộc các thể loại khác nhau. Thơ văn của Người triệt để chống tham tàn bạo ngược.Cái đẹp cái tự nhiên của con người hòa quyện trong văn thơ của HCM.
-HCM là người thầy của báo chí CMVN . Người tham gia sáng lập ra báo Leparia, báo Thanh Niên. Hơn thế nữa người còn viết hơn 1500 bài báo dưới những bút danh khác nhau (1919-1969)
-HCM còn là người khởi xướng các phong trào văn hóa cao.
+) Phong trào diệt giặc dốt. Được Unessco đánh giá rất cao.
+) Phát động phong trào tết trông cây
+) Phát động phong trào Xây dựng đời sống mới.



Number one


Tư tưởng HCM

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang
Trang 1 trong tổng số 1 trang
* Không dùng những ngôn từ thiếu lịch sự.
* Bài viết sưu tầm nên ghi rõ nguồn.
* Tránh spam nhảm không liên quan đến chủ đề.
Mong các bạn viết tiếng Việt có dấu.
Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
Đại Học Toán K9 :: Góc học tập :: Tài liệu học tập :: Đường lối _ Tư tưởng _ KTCT-
Bài Viết Mới Bài viết mớiKhông Có Bài Viết Mới Không có bài viết mớiDiễn đàn đã bị khóa Diễn đàn đã bị khóa
Đại Học Toán K9 _ Đại Học Hải Phòng
@ 2010 ĐH Hải Phòng dhtoank9.4umer.com
Hãy cùng nhau vun đắp những kỷ niệm đẹp nhất thời sinh viên
Xem tốt nhất với Firefox và màn hình > 1280x1024
Get Firefox Now Get Windows Media Player Now
Free forum | © phpBB | Free forum support | Liên hệ | Report an abuse | Create a blog